26/06/2022

Thông Tin

Thông Tin Tổng Hợp

Sản lượng than nhập khẩu giảm mạnh trong 5 tháng đầu năm

sản lượng than

Than nói chung và than đá nói riêng ngày càng có nhu cầu lớn ở nước ta để phục vụ cho nền công nghiệp vận hành và phát triển. Tuy nhiên cũng như hầu hết các mặt hàng hoá khác trên thị trường, sản lượng than cũng bị ảnh hưởng bởi dịch covid19 mà giảm đáng kể. Theo báo cáo, lượng và kim ngạch nhập khẩu của than giảm mạnh trong 5 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm ngoái. Cũng dễ hiểu bởi lý do là dịch bệnh ảnh hưởng, kinh tế đình trệ, hoạt động sản xuất cũng vì vậy mà giảm đi. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp cho bạn đọc những thông tin liên quan đến sản lượng than nhập khẩu trong nữa đầu năm nay.

Sản lượng than nhập khẩu 5 tháng đầu năm

5 tháng đầu năm 2021 nhập khẩu nhóm hàng than đá đạt 16,43 triệu tấn. Tương đương 1,46 tỷ USD. Giảm mạnh 33% về khối lượng và giảm 19% về kim ngạch. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan. Tháng 5/2021 cả nước nhập khẩu 3,81 triệu tấn than đá. Tương đương 372,04 triệu USD. Giảm 3,5% về lượng nhưng tăng 6,5% về kim ngạch so với tháng liền kề trước đó. Nhưng giảm mạnh 46,3% về lượng. Và giảm 23,9% về kim ngạch so với cùng tháng năm 2020. Giá nhập khẩu tháng 5/2021 đạt trung bình 97,8 USD/tấn. Tăng 10,4% so với tháng 4/2021 và tăng 41,6% so với tháng 5/2020.

Sản lượng than nhập khẩu 5 tháng đầu năm

Tính chung cả 5 tháng đầu năm 2021 nhập khẩu nhóm hàng này đạt 16,43 triệu tấn. Tương đương 1,46 tỷ USD, giảm mạnh 33% về khối lượng. Và giảm 19% về kim ngạch so với 5 tháng đầu năm 2020. Giá trung bình trong cả 5 tháng đạt 88,9 USD/tấn, tăng 21%.

Thị trường nhập khẩu than của Việt Nam

Than đá nhập khẩu về Việt Nam chủ yếu có xuất xứ từ 3 thị trường: Australia, Indonesia và Nga. Riêng 3 thị trường này đã chiếm trên 85% trong tổng kim ngạch nhập khẩu than đá của cả nước.

Thị trường nhập khẩu than của Việt Nam

– Trong đó nhập khẩu từ Australia đạt 6,75 triệu tấn. Tương đương gần 603,89 triệu USD, giá trung bình 89,5 USD/tấn. Chiếm trên 41% trong tổng khối lượngvà tổng kim ngạch nhập khẩu than đá của cả nước. Giảm gần 25% cả về khối lượng và kim ngạch so với 5 tháng đầu năm 2020. Nhưng giá nhập khẩu tăng nhẹ 1,5%.

– Thị trường lớn thứ 2 cung cấp nhóm hàng này cho Việt Nam là Indonesia đạt 6,39 triệu tấn. Tương đương gần 441,17 triệu USD, giá 69,1 USD/tấn. Chiếm 38,9% trong tổng lượng và chiếm 30,2% trong tổng kim ngạch. Giảm 21,8% về khối lượng nhưng tăng 8,2% về kim ngạch. Và tăng mạnh 38,3% về giá so với cùng kỳ năm trước.

– Nhập khẩu sản lượng than đá từ thị trường Nga chiếm 11,3% trong tổng khối lượng. Và chiếm 13,9% trong tổng kim ngạch. Đạt1,86 triệu tấn, trị giá 202,6 triệu USD. Giảm 46% về lượng và giảm 28% về kim ngạch nhưng tăng 33% về giá so với cùng kỳ.

Kết luận

Như vậy, có thể thấy việc sản lượng than nhập khẩu giảm trong 5 tháng đầu năm nay so với cùng kỳ năm ngoái có thể do nhiều lý do. Lý do ảnh hưởng nặng nhất đó chính là tình hình dịch bệnh. Thứ hai có thể là do thị trường giá biến động. Sản lượng giảm để chờ sự ổn định của thị trường.

Trên đây là những thông tin về báo cáo sản lượng và kim ngạch nhập khẩu than nữa đầu năm 2021. Hi vọng với thông tin chúng tôi cung cấp. Bạn sẽ có thêm nhiều kiến thức bổ ích. Đừng quên cập nhật thêm những thông tin về thị trường, bất động sản, công nghệ trên website của chúng tôi. Cảm ơn bạn đã theo dõi, chúc bạn một ngày làm việc vui vẻ.